(BST Lụa Ca) x Nhã Nhạc Cung Đình Huế
Giới thiệu: Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc thính phòng kết hợp hát và múa của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội lớn và quan trọng (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn. Được tổ chức một cách hoành tráng và quy mô nhằm thể hiện đẳng cấp vương giả của giới hoàng tộc lúc bấy giờ.
Nguồn gốc: Có nguồn gốc từ thời nhà Lý, khoảng năm 1010-1225. Được xây dựng dựa trên cơ sở văn hóa truyền thống văn nghệ dân gian Việt cổ. Lúc ấy, triều đình cho lập tổ chức ca múa với quy mô hơn 100 người. Sau đó, trải qua một khoảng thời gian khó khăn, đến triều đại nhà Nguyễn (1802-1945), tỉnh hình kinh tế, chinh trị, xã hội dần ổn định đã tạo điều kiện cho văn hóa nghệ thuật được cải thiện và phát triển.
Nhạc cụ: Dàn nhạc cung đình thường có quy mô lớn và phong phú với đầy đủ các chủng loại như Bộ nhạc cụ hơi (sáo, kèn...). Bộ dây (đàn nhị, nguyệt, tỳ bà, đàn tam...); bộ nhạc cụ màng rung (trống chiến, trống bảng, trống trống bỏng...) Bộ nhạc cụ thể minh (chuông, xập xòe, lục lạc, mô sừng, sinh tiền, tam âm la, phách...). Cụ thể hơn gồm có bộ Đại nhạc gồm 42 nhạc cụ; Tiều nhạc gồm 8 nhạc; Huyền nhạc gồm 26 nhạc cụ.
Nghệ sĩ: Các nghệ nhân trình diễn nhã nhạc cũng được rèn luyện một cách công phu và nghiêm ngặt. Trong quá trình hòa tấu, các nhạc công phải tập trung lắng nghe nhau, nhất là nghe tiếng trống báo hiệu để vào "thủ," ra vĩ" thật nhịp nhàng và ăn ý.
Điểm đặc trưng: Nhã nhạc cung đình Huế được ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố âm nhạc khác nhau. Nó kết hợp các yếu tổ của âm nhạc dân gian Việt Nam, âm nhạc cung đình Trung Quốc và các yếu tố tôn giáo. Theo ghi chép từ sử sách triều Nguyễn, có 12 cuộc lễ của hoàng gia, mỗi cuộc là đều có các bài ca chương tương ứng và có 126 bài ca chương ghi đầy đủ lời ca nguyên gốc và bản dịch. Các điệu Nhã nhạc phổ biến hiện nay là "Tứ đại cảnh", "Thập thủ liên hoàn", "Lưu Thủy", "Ngũ đối thượng - Ngũ đối hạ", "Tam luân cửu chuyển" hay còn gọi là "Bà Hồi Chin Chặp" (tấu kèn trống). Trong đó, hai bài "Lưu Thủy", "Kim Tiền" là nổi tiếng nhất và thường được sử dụng để biểu diễn ở các dịp giao lưu văn hóa. Nhã nhạc đã trở thành một phần thiết yếu của nghi lễ cung đình Việt Nam với hàng trăm nghi lễ khác nhau hàng năm. Tuy nhiên, vai trò của Nhã Nhạc Cung Đình không chỉ giới hạn ở việc hóa phục vụ các nghi lễ tôn mà đây còn là một hình thức phương tiện giao tiếp và thể hiện lòng tôn kính đối với thần linh và các vua chúa thời phong kiến. Gắn liền với Nhã nhạc là nghệ thuật múa cung đình, các động tác thường rất tinh tế nhưng không kém phần sống động, toát lên âm hưởng của sự tao nhã và kết thúc bằng một đội hình ngưng đọng. Một số điệu múa cung đình nổi bật là múa bát dật, múa lục cúng hoa đăng, múa lân mẫu xuất lân nhi. Nhã Nhạc Việt Nam có hệ thống các bài rất phong phú, chỉ riêng hệ thống nhạc chương đã có hàng trăm bản, chưa kể đến các bản khí nhạc dành cho Tiểu nhạc, Đại nhạc và Huyền Nhạc,...
